75% rau quả Việt Nam xuất sang Trung Quốc

75% rau quả Việt Nam xuất sang Trung Quốc

Lượng rau quả bán sang Trung Quốc từ 28% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành, đã tăng lên 75,6% trong năm nay.

Lượng rau quả bán sang Trung Quốc từ 28% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành, đã tăng lên 75,6% trong năm nay.

Khi Trung Quốc “ăn hàng” đến 75,6% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam, tính đến hết tháng 11/2017, hàng rào kiểm dịch thực vật bắt đầu “siết” hàng tiểu ngạch vào thị trường này, ông Nguyễn Hồng Sơn, cục trưởng cục Trồng trọt, bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết tại hội nghị “Thúc đẩy phát triển sản xuất, xuất khẩu cây ăn trái”, ngày 6/12/2017 tại Tiền Giang.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long có diện tích cây ăn trái lớn nhất nước (chiếm 38%), Đông Nam bộ 24%, Đông Bắc 17%, đồng bằng sông Hồng 10%…

Dự báo kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam trong năm 2017 sẽ đạt từ 3,5 – 3,6 tỷ USD, tăng 41 – 48% so với năm 2016. Đây là ngành hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh trong những năm gần đây, bình quân mức tăng trưởng đạt 32,2%/năm trong giai đoạn 2011 – 2016.

Dù mặt hàng quả tươi của Việt Nam đã xuất khẩu được sang hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng lượng rau quả bán sang Trung Quốc từ 28% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành, đã tăng lên 75,6% trong năm nay.

Ngọc Bích Theo TGTT

Trích “tiepthithegioi.vn”

Trái vú sữa được nhập khẩu vào Mỹ

Trái vú sữa được nhập khẩu vào Mỹ

Trong văn bản gửi Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN-PTNT Việt Nam), Cơ quan Kiểm dịch động thực vật (APHIS) thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ thông báo đồng ý cho phép Việt Nam được xuất khẩu trái vú sữa sang quốc gia này. 

Đây là kết quả của gần 10 năm kể từ khi Việt Nam gửi hồ sơ đăng ký xuất khẩu trái vú sữa, phía Mỹ đã khảo sát và xem xét nghiêm ngặt điều kiện về kiểm dịch thực vật đối với các đối tượng dịch hại, yêu cầu kiểm soát bắt buộc 8 loại sâu hại, chủ yếu là các loại ruồi đục quả và rệp; phải có vùng trồng được cấp mã số; phải chiếu xạ trái trước khi xuất khẩu.Được nhập khẩu vào Mỹ, vùng chuyên canh vú sữa hy vọng sẽ phát triển

Hiện có khoảng 5.000ha diện tích trồng cây vú sữa, chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long (nhiều nhất là tỉnh Tiền Giang với khoảng 3.100ha, Cần Thơ 1.200ha…), với sản lượng hàng năm trên dưới 60.000 tấn. Vú sữa là loại trái cây thứ 5 của Việt Nam được phép xuất khẩu vào Mỹ, sau trái thanh long, nhãn, chôm chôm và vải.
Từ trước tới nay, trái vú sữa chủ yếu là tiêu thụ nội địa, một phần xuất sang Trung Quốc và các nước ASEAN. 
SGGP
Trích “nongthonviet.com.vn”
Tạo đà cho rau củ, quả tươi Việt Nam vào EU

Tạo đà cho rau củ, quả tươi Việt Nam vào EU

EU là một trong những thị trường tiềm năng đối với rau củ quả tươi của Việt Nam, tuy nhiên hiện nay việc không đáp ứng được yêu cầu an toàn thực phẩm có thể làm giảm kim ngạch xuất khẩu và đối mặt với các biện pháp quản lý chặt chẽ hơn.

Đây là vấn đề được các chuyên gia và doanh nghiệp quan tâm tại hội thảo “Duy trì và mở rộng thị trường rau củ quả tươi của Việt Nam xuất khẩu vào EU”, do Văn phòng SPS Việt Nam, Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản – Bộ NN-PTNT và Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu (EU-Mutrap) tổ chức ở TP Hồ Chí Minh, ngày 9/10.  

Thị trường khó tính

Ông Lê Thanh Hòa, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, cho hay, năm 2013, EU phát hiện các sản phẩm rau củ, quả tươi Việt Nam có một số vấn đề về kiểm tra, kiểm dịch thực vật, nên đã ngưng nhập khẩu. Sau đó, các Bộ, ngành và doanh nghiệp Việt Nam đã nỗ lực cải thiện và các sản phẩm rau củ, quả tươi Việt Nam đã mở lại được thị trường EU, nhưng chưa được như kỳ vọng và tương xứng với tiềm năng sẵn có. 

Trồng dưa trong nhà lưới

Theo Bộ NN-PTNT, kim ngạch xuất nhập khẩu rau quả 9 tháng đầu năm 2017 của Việt Nam tăng ngoạn mục, đồng thời ước xuất siêu hơn 1,4 tỷ USD. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt hơn 2,6 tỷ USD (tăng 44,2% so với cùng kỳ năm trước), còn kim ngạch nhập khẩu đạt hơn 1,1 tỷ USD (tăng 78,2%). Thị trường châu Á là khu vực dẫn đầu xuất khẩu rau củ quả tươi của Việt Nam, tiếp theo là khu vực EU và thị trường các khu vực khác. Trong đó, các mặt hàng nông sản chính xuất khẩu sang EU từ đầu năm 2017 đến nay gồm rau, quả, hoa và những sản phẩm khác đạt 680.000 tấn.  Mặc dù, trong năm nay kim ngạch xuất khẩu rau củ, quả tươi Việt Nam đang có tín hiệu tốt ở các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… nhưng song song với đó là nguy cơ doanh nghiệp vướng phải các rào cản phòng vệ thương mại, Luật bảo vệ và kiểm dịch thực vật, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.  Ông Nguyễn Hữu Đạt, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, đối với thị trường EU thì nhóm rau gia vị có nguy cơ cao về kiểm tra, khiểm soát thực vật, nên cần duy trì giải pháp quản lý mã số nhà lưới và nhà đóng gói như hiện nay. Bên cạnh đó, tăng cường cải tiến thêm quy trình nhà lưới và quy định canh tác trong nhà lưới đạt hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao hơn.  Riêng nhóm rau củ, quả tươi, chỉ đòi hỏi có sự liên kết chặt chẽ hơn giữa nhà xuất khẩu và người sản xuất đảm bảo nguyên liệu đạt chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của EU. Trong đó, nên triển khai hệ thống truy xuất nguyên nguồn gốc nguyên liệu xuất khẩu, vùng sản xuất phải đạt tiêu chuẩn chuẩn VietGAP.  

Nắm bắt yêu cầu người mua

Chia sẻ về yêu cầu của người mua rau củ, quả tươi tại EU, ông Ruggero Malossi, chuyên gia quốc tế thuộc Dự án EU-Mutrap bày tỏ, thị trường EU luôn đòi hỏi cao về an toàn thực phẩm. Đó là lý do tại sao việc sản xuất và kinh doanh nông phẩm tươi phải tuân thủ các yêu cầu của luật pháp cũng như những yêu cầu khác của người mua. Trong số các yêu cầu chính, nhà xuất khẩu sẽ phải áp dụng quy trình kiểm soát chất lượng cụ thể trong quá trình chế biến, đóng gói sản phẩm. Đồng thời, chú trọng truy xuất nguồn gốc sản phẩm để có thể theo dõi sản phẩm trong trường hợp phát sinh về an toàn và khắc phục chúng. 

Trồng bưởi Năm Roi theo hướng VietGAP ở Hậu Giang

Hiện nay, Việt Nam đang triển khai HACCP (Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn) để đảm bảo chất lượng và an toàn trong ngành cá. Tuy nhiên, điều quan trọng là tất cả các đơn vị chế biến, đóng gói sản phẩm phải biết và tuân thủ các tiêu chuẩn này thì mới đảm bảo có thể cạnh tranh trong các thị trường mới, bao gồm cả EU.  Tương tự, nên cần xem xét áp dụng HACCP cho rau củ, quả tươi, cho các hoạt động sau thu hoạch và chế biến rau củ, quả tươi. Việc áp dụng HACCP kết hợp với GMP (Tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt) có thể kéo dài thời hạn sử dụng sản phẩm và giúp thu hồi lại chi phí dễ dàng. 

MỸ PHƯƠNG
Trích “nongnghiep.vn”
Tương lai ngành lúa gạo: ‘Quan điểm chiến lược cần nhìn xa hơn’

Tương lai ngành lúa gạo: ‘Quan điểm chiến lược cần nhìn xa hơn’

Có thể nói, các quan điểm trong “Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2030” (Chiến lược) đã đề cập đầy đủ những nội dung mấu chốt trong phát triển thị trường xuất khẩu gạo. Đó là hiệu quả kinh tế – xã hội, an ninh lương thực trong nước, sức cạnh tranh, bảo vệ môi trường sinh thái, phân tán rủi ro…

Việc xử lý mâu thuẫn giữa hai quan điểm hiệu quả kinh tế – xã hội và an ninh lương thực trong nước vẫn còn để ngỏ trong chiến lược phát triển ngành lúa gạo. Ảnh: Trung Chánh/TBKTSG.

Tuy nhiên, xét trên tổng thể, dường như chiến lược này vẫn khó có thể làm an lòng về tương lai của ngành lúa gạo Việt Nam.

Vai trò thực sự của xuất khẩu gạo

Xuất khẩu gạo chỉ có thể góp phần bảo đảm an ninh lương thực trong nước, chứ không thể giữ vai trò quyết định.

Trước hết, như các số liệu thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO) cho thấy, kể từ năm 1989 đến nay, tuy tổng lượng gạo xuất khẩu của nước ta đã đạt mức khổng lồ 125 triệu tấn, nhưng nếu so với tổng sản lượng gạo đã vượt qua ngưỡng khổng lồ 600 triệu tấn, tỷ trọng của gạo xuất khẩu chỉ chiếm chưa tới 21%.

Cho dù vậy, như lịch sử gần ba thập kỷ qua cho thấy, mỗi khi thị trường gạo thế giới “hữu sự”, giá lúa gạo trong nước lập tức sốt nóng, hoặc sốt lạnh theo. Thực tế này có nghĩa là, trong thế giới lúa gạo mở ngày nay, xuất khẩu gạo là kênh truyền dẫn tác động của thị trường gạo thế giới đối với thị trường lúa gạo trong nước.

Do vậy, có thể nói, xuất khẩu gạo giữ vai trò của “chiếc van an toàn”, giúp bảo đảm an ninh lương thực trong nước, còn “cỗ máy tạo nguồn động lực” bảo đảm an ninh lương thực trong nước phải là hoạt động sản xuất ra lượng gạo khổng lồ đó của hàng chục triệu nông dân.

Do vậy, việc “đóng đinh” mục tiêu (sản lượng) xuất khẩu gạo như trong Chiến lược có thể đi ngược lại quan điểm an ninh lương thực.

Sở dĩ như vậy là bởi nhiều lẽ. Đó có thể là, sau khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn “trả bài” Chính phủ về quy hoạch sản xuất lúa gạo, khi chứng minh được lượng gạo xuất khẩu có hiệu quả cao hơn, hoặc thấp hơn, thì việc tuân thủ mục tiêu xuất khẩu gạo trong Chiến lược không phải là cách lựa chọn khôn ngoan. Đã từng xảy ra trường hợp này, như trong hai đợt sốt nóng giá gạo thế giới 1998 và 2008, khi đó chúng ta được mùa hơn cả dự kiến, nhưng xuất khẩu lại bị cấm hoặc bị tạm ngừng…

Không những vậy, chính các nhà hoạch định chiến lược cũng tự mâu thuẫn với mình, dù “đóng đinh” mục tiêu lượng gạo xuất khẩu như vậy nhưng ngay trong quan điểm chiến lược đầu tiên lại khẳng định: “Góp phần tiêu thụ hết lúa, gạo hàng hóa với giá có lợi cho người nông dân”.

Lợi ích kinh tế – xã hội không thể “tĩnh” trong thế giới “động”

Chiến lược nói trên quyết định thu hẹp quy mô xuất khẩu gạo hiện nay do hiệu quả kinh tế – xã hội không được như mong muốn, hoặc thấp hơn nhiều so với các phương án chuyển đổi diện tích đất lúa sang các mục đích sử dụng khác. Điều này có thể hợp lý, nhưng cũng có thể không hợp lý, tùy vào bối cảnh cụ thể. Bởi lẽ, hiệu quả kinh tế – xã hội (của việc xuất khẩu gạo) thấp như hiện nay là do ba nguyên nhân riêng rẽ, hoặc cộng hưởng với nhau theo những cách khác nhau.

Trước hết, hiệu quả này phụ thuộc rất nhiều, nếu như không muốn nói là phụ thuộc chủ yếu, vào cán cân cung – cầu lúa gạo thế giới.

Như các số liệu thống kê của FAO và Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC) cho thấy, trong gần sáu thập kỷ qua, giá gạo thế giới nói chung (tính theo toàn bộ “rổ gạo xuất khẩu” của thế giới), thường xuyên biến động rất mạnh theo những chu kỳ dài, ngắn rất khác nhau, thậm chí có những giai đoạn ngắn biến động rất thất thường.

Chẳng hạn, trong hai thập kỷ trở lại đây, từ mức đỉnh 392 đôla Mỹ/tấn năm 1996, giá gạo thế giới lao dốc liên tục và chạm đáy chỉ với 244 đôla Mỹ/tấn năm 2002, còn giai đoạn 2003-2006 lại đảo chiều và năm 2007 tăng rất mạnh, thậm chí năm 2008 tăng đột biến, đạt kỷ lục mọi thời đại 673 đôla Mỹ/tấn.

Còn từ đó đến nay, sau giai đoạn năm năm 2009-2013 tăng giảm rất thất thường chưa từng có (cứ một năm tăng lại một năm giảm), giá gạo thế giới đã liên tục giảm.

Như vậy, hiệu quả này chắc chắn đã tăng mạnh, khi cán cân cung – cầu lúa gạo thế giới nghiêng về phía các quốc gia xuất khẩu gạo.

Tiếp theo, hiệu quả kinh tế – xã hội trong sản xuất lúa và xuất khẩu gạo hiện nay thấp không chỉ do giá gạo thế giới giảm, mà còn do hệ thống phân phối lúa gạo của nước ta vẫn còn quá nhiều bất cập. Đó là, với chuỗi giá trị lúa gạo có lẽ dài nhất thế giới của chúng ta hiện nay, đương nhiên lợi nhuận trong sản xuất lúa và xuất khẩu gạo phải chia sẻ cho tất cả các chủ thể kinh doanh đó. Trong đó, những nông dân sản xuất lúa với quy mô nhỏ, thậm chí siêu nhỏ (chiếm đa phần) là những chủ thể yếu thế nhất trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Do vậy, hiệu quả này chắc chắn sẽ tăng, thậm chí có thể tăng mạnh một khi hệ thống tổ chức sản xuất lúa và phân phối lúa gạo được tổ chức lại như Chiến lược đã chỉ ra.

Cuối cùng, hiệu quả kinh tế – xã hội trong sản xuất lúa và xuất khẩu gạo hiện nay thấp so với những nông sản khác còn do giá gạo thế giới hiện đang trong giai đoạn tụt dốc, trong khi giá nông sản khác lại trong tình trạng ngược lại.

Do vậy, không ai có thể phủ nhận khả năng tình thế này đảo ngược trong tiến trình phát triển, và vì vậy, “cánh diều” lúa gạo Việt Nam tự khắc sẽ bay cao khi “gió” giá gạo thế giới thổi lại.

Tất cả những điều nói trên cho thấy rằng, nếu chỉ dựa trên hiệu quả kinh tế – xã hội tĩnh của sản xuất và xuất khẩu gạo hiện nay để định hướng chiến lược phát triển, rất có thể chúng ta sẽ phạm phải sai lầm không có khả năng khắc phục được.

Tầm nhìn về an ninh lương thực cần xa hơn

Việc xử lý mâu thuẫn giữa hai quan điểm hiệu quả kinh tế – xã hội và an ninh lương thực trong nước vẫn còn để ngỏ.

Nếu “căn ke” theo Chiến lược, nhiệm vụ đặt ra cho ngành nông nghiệp là duy trì sản xuất lúa đủ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước để bảo đảm an ninh lương thực từ nay đến năm 2030 và chỉ tổ chức sản xuất lúa để xuất khẩu 4,5-5 triệu tấn gạo vào năm 2020, đến năm 2030 giảm xuống 4 triệu tấn thì mới đạt hiệu quả kinh tế – xã hội; diện tích đất lúa còn lại phải chuyển sang các mục đích sử dụng khác cho hiệu quả kinh tế – xã hội cao hơn.

Về quy mô diện tích đất lúa nên chuyển đổi, ý kiến có lẽ mạnh bạo nhất mà một số phương tiện thông tin đại chúng gần đây đã nêu là chỉ nên giữ trên dưới 3 triệu hécta.

Trong khi đó, theo dự báo vừa mới công bố của Liên hiệp quốc, với kịch bản trung bình, mức kỷ lục của dân số nước ta sẽ là 116 triệu người vào năm 2059 và giảm dần xuống còn 108 triệu người vào cuối thế kỷ này; với kịch bản cao, con số sẽ lên mức 163 triệu vào cuối thế kỷ. Còn các dự báo khác cho thấy, do tác động của biến đổi khí hậu, một phần không nhỏ diện tích hai vựa lúa lớn nhất nước sẽ bị nước biển nhấn chìm, cho nên những “báu vật quốc gia” này sẽ bị thu nhỏ tương ứng, nếu như không có phương án quai đê biển giống như Hà Lan để giữ hoặc phương án này không mang lại hiệu quả kinh tế. Trong bối cảnh như vậy, quan điểm hiệu quả kinh tế – xã hội và an ninh lương thực trong nước đương nhiên xung đột lẫn nhau trong tương lai.

Bởi lẽ, mức sản lượng gạo đảm bảo an ninh lương thực trong nước cho 95 triệu dân hiện nay có thể không đủ để bảo đảm cho quy mô dân số lớn hơn hẳn như vậy, kể cả trường hợp chuyển cả 4 triệu tấn gạo dành cho xuất khẩu vào năm 2030 sang tiêu dùng trong nước.

Quỹ đất lúa mà ông cha chúng ta từ hơn một ngàn năm nay đã tạo dựng, giữ gìn, tu bổ có thể bảo đảm an ninh lương thực trong nước cho cả các thế hệ người Việt Nam mai sau. Nếu chỉ vì hiệu quả kinh tế – xã hội trong một thời kỳ ngắn ngủi hơn một thập kỷ trước mắt mà chúng ta đã để vuột mất, bởi phần diện tích đất lúa đó không bao giờ có thể tái tạo được, chí ít là đối với vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, thì sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực trong dài hạn hơn nữa.

Nguyễn Đình Bích Theo TBKTSG

Trích “tiepthithegioi.vn”

Xuất khẩu gạo sẽ sôi động những tháng cuối năm

Xuất khẩu gạo sẽ sôi động những tháng cuối năm

Xuất khẩu gạo những tháng cuối năm 2017 được dự báo tiếp tục sôi động khi nhu cầu của thị trường đang tăng cao, đặc biệt là từ thị trường xuất khẩu gạo tập trung. Điều này đã giúp giá lúa gạo tại thị trường nội địa tăng trong những ngày gần đây.

Xuất khẩu gạo tiếp tục sôi động trong những tháng cuối năm nay. Ảnh: Trung Chánh/TBKTSG.

Theo số liệu thống kê quốc tế, tính đến giữa tháng 6/2017, xuất khẩu gạo Việt Nam đạt trên 2,9 triệu tấn, tăng trên 27% so với cùng ký năm ngoái. Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu gạo cao nhất trong số 5 nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới hiện nay, gồm Thái Lan (tăng 13,57%); Ấn Độ ( tăng 3,57%); Pakistan (giảm 33,44%) và Mỹ (tăng 25,54%).

Còn thống kê của Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) cho thấy, tính đến cuối tháng 5/2017, xuất khẩu gạo của doanh nghiệp hội viên đơn vị này đạt gần 2,3 triệu tấn, trị giá FOB đạt gần 975 triệu đôla Mỹ, tăng 9,71% về lượng và 11,29% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong khi đó, về triển vọng xuất khẩu gạo trong những tháng cuối năm 2017, theo đánh giá của VFA, là sẽ tiếp tục sôi động, nhất là khi nhu cầu các hợp đồng tập trung đang tăng cao.

Ông Huỳnh Thế Năng, Chủ tịch VFA kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty lương thực miền Nam (Vinafood 2) cho biết, từ tháng 5/2017 đến nay, nhu cầu các hợp đồng tập trung tăng cao và số lượng có khả năng lên đến 880.000 tấn; trong đó, có khoảng 770.000 tấn dự kiến được các nước nhập khẩu và nhận giao hàng từ nay đến tháng 8/2017.

Đối với thị trường Philippines, ông Năng cho hay, theo kế hoạch đầu tháng tới, quốc gia này sẽ đấu thầu mua 250.000 tấn gạo và khả năng Việt Nam được chọn để cung cấp là rất cao. Bởi, lượng gạo dự trữ của Thái Lan hiện chỉ còn khoảng 160.000 tấn đủ tiêu chuẩn sử dụng làm lương thực và giá gạo của Thái Lan cao hơn nên Việt Nam có ưu thế lớn trong đấu thầu sắp tới.

Một điểm đáng chú ý nữa, theo ông Năng, đó là thị trường gạo thế giới đang chuyển từ chỗ người mua làm chủ, quyết định sang người bán làm chủ, tức những người có lúa gạo hàng hóa mới là người quyết định cục diện của thị trường. Tuy nhiên, ông Năng cho rằng, muốn giữ được thế làm chủ này, thì việc nắm rõ sản xuất trong nước để điều hành có lợi cho nông dân, cho doanh nghiệp là bài toán cần phải tính đến.

Ông cho biết, kế hoạch dự kiến vụ hè thu 2017 (đang thu hoạch) sau khi trừ đi cho tiêu dùng trong nước, vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ có 3 triệu tấn gạo phục vụ cho xuất khẩu. Ông tính toán, qua cân đối ba vụ lúa ở ĐBSCL thì sẽ có ít nhất khoảng 8 triệu tấn gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu.

Trong khi đó, theo ông Năng, năm ngoái Việt Nam xuất khẩu được 5 triệu tấn gạo và với khoảng 1,3-1,4 triệu tấn xuất khẩu không thống kê được (xuất tiểu ngạch) thì tổng lượng gạo xuất khẩu trong năm 2016 là khoảng 6,3-6,4 triệu tấn.

Triển vọng thị trường xuất khẩu gạo trong những tháng cuối năm 2017 và các yếu tố tích cực như nêu ở trên đã giúp giá lúa gạo tại thị trường nội địa tăng thời gian gần đây. Đặc biệt, với chủng loại lúa, gạo IR 50404, chủng loại chiếm thị phần lớn trong các hợp đồng tập trung.

Cụ thể, lúa IR 50404 tươi thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp hiện được bán với giá 5.000-5.200 đồng/kg, tăng 500-600 đồng/kg so với mức giá cách nửa tháng. Trong khi đó, gạo nguyên liệu của giống này cũng tăng từ mức 6.700-6.800 đồng/kg lên mức 7.200-7.300 đồng/kg.

Ngoài yếu tố thị trường, theo ông Năng, tỷ trọng cơ cấu giống lúa IR 50404 được gieo sạ sụt giảm mạnh, từ mức chiếm khoảng 30% như trước đây xuống còn dưới 20% trên tổng cơ cấu giống được gieo sạ ở ĐBSCL như hiện nay, khiến sản lượng lúa gạo IR 50404 sụt giảm cũng là lý do tăng giá.

Theo TBKTSG

Trích “tiepthithegioi.vn”

Có gì trong trang trại tía tô ‘công nghệ cao’ bán 700 đồng/lá

Có gì trong trang trại tía tô ‘công nghệ cao’ bán 700 đồng/lá

Toàn bộ hạt giống được nhập khẩu từ Nhật Bản, vật liệu xây dựng nhà xưởng, phương thức, quy trình sản xuất, tuyển chọn, bảo quản… cũng đều đến từ xứ mặt trời mọc. Và còn nhiều điều khác lạ ở trang trại tía tô đặc biệt này…

Nở hoa trên vùng đất trũng Theo ông Phạm Xuân Sơn, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Lương Tài, Bắc Ninh thì vùng đất này trước đây chủ yếu là trồng lúa, gần đây có phát triển thêm một số loại cây rau màu mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhất là củ cà rốt. Tuy nhiên, không có nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Việc mới đây có thông tin về việc xuất khẩu lá tía tô sang Nhật Bản với giá khoảng 700 đồng/lá thì bản thân những người làm trong ngành cũng rất bất ngờ và vui mừng. “Khi đến thăm mô hình này, chúng tôi thấy thực sự đây là mô hình nông nghiệp công nghệ cao và nếu xuất khẩu với giá trị như thế cũng là xứng đáng”, ông Sơn cho biết. Thôn Ngọc Khám, xã Lâm Thao, huyện Lương Tài được Tập đoàn May Hồ Gươm lựa chọn là nơi để sản xuất mô hình tía tô xanh xuất khẩu sang Nhật Bản. Nói về những khó khăn ban đầu, ông Nguyễn Văn Bình, Quản lý dự án nông nghiệp công nghệ cao – Trang trại tía tô Lương Tài, Bắc Ninh, đơn vị hiện đang thực hiện mô hình này cho biết: Khu vực được chọn làm nơi phát triển cây tía tô xanh trước đây chỉ là bãi sình lầy, cỏ cao đến bụng người, không có đường giao thông được cứng hóa, nằm cách xa trung tâm xã. Xác định đây là nơi để sản xuất, đơn vị đã mời các chuyên gia về lấy mẫu, phân tích cụ thể hàm lượng các chất trong đất, phân tích mẫu nước, không khí… xung quanh để xác định khả năng phát triển. Quá trình khảo sát của các chuyên gia từ Nhật Bản khẳng định nơi đây có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giống cây này. Bắt đầu từ tháng 5/2017, đơn vị đã bắt tay vào thực hiện, cải tạo lại đất đai, xây dựng các khung nhà nilon, tuyển chọn, đào tạo nhân lực, huấn luyện quy trình cho người lao động từ khi làm đất cho tới chăm sóc, thu hái, bảo quản, tuyển chọn lá, đóng gói… Hiện nay, đơn vị đã hoàn thành và đưa vào sử dụng hơn 2 ha tía tô xanh đồng thời đang chuẩn bị sẵn sàng để đón loạt giống mới trong thời gian tới. Hiện, đơn vị đã có khoảng hơn 17 ha đất được dành để phát triển loại cây này. Những điểm đặc biệt “Không giống bất cứ quy trình nào ở Việt Nam” là câu mà ông Nguyễn Văn Bình đánh giá về dự án trồng tía tô xanh tại Bắc Ninh. Điểm đặc biệt đầu tiên là toàn bộ hệ thống, trang thiết bị, vật tư đều phải nhập khẩu từ… Nhật Bản. Đáng chú ý là loại nilon được dùng để che phủ diện tích cây trồng được thiết kế thấm hơi nước một chiều. Tức là nếu lắp đặt đúng chiều, hơi nước trong các vườn cây sẽ được thẩm thấu qua màng nilon ra ngoài trong khi nước bên ngoài không lọt được xuống vườn. Thế nên, dù giữa trời nắng nhưng các máng nước lắp đặt dưới các màng nilon vẫn nhỏ nước tí tách. Các loại giấy, đèn bắt côn trùng, đèn giúp cây sinh trưởng, hệ thống quạt gió… cũng đều nhập từ Nhật. Chỉ có duy nhất… gà và ếch, nhái là có xuất xứ từ Việt Nam trong các khu vực trồng cây tía tô. Theo quy định ở đây, mỗi vườn phải có hàng chục con gà được thả bên trong. Ngoài ra, bắt buộc phải thả khoảng hơn chục con ếch hoặc nhái để làm thiên địch. Chế độ chăm sóc cây tía tô ở đây cũng rất khác biệt. Loại tía tô này có màu xanh, hương vị thơm mát được dùng chủ yếu để ăn sống ở Nhật Bản và Hàn Quốc. Chính vì thế, cây trồng luôn ở tình trạng được bảo vệ nghiêm ngặt. Không có thuốc bảo vệ thực vật, chủ yếu dùng các loại phân hữu cơ và thường xuyên phun thuốc tiệt trùng. Nhiệt độ, độ ẩm luôn được kiểm tra thường xuyên và duy trì ổn định. Các thông số về nguồn nước, môi trường, vi khuẩn được lấy mẫu và phân tích hàng tuần. Tiềm năng lớn Tuy có giá trị cao nhưng không phải lá tía tô nào cũng được xuất khẩu. Theo các chuyên gia ở đây, lá xuất khẩu được là lá thứ 7 của cây, các lá trước đó đều bỏ đi, không sử dụng được. Sau khi thu hoạch lá thứ 7 này, cây lại trải qua quy trình phát triển 7 lá nữa mới lại cho sản phẩm xuất khẩu. Hiện nay, có 3 kích cỡ lá được người Nhật ưa dùng và trang trại ở Việt Nam phải bảo đảm đúng kích cỡ này để thu hái. Trong 3 kích cỡ này, lá càng nhỏ thì giá trị càng cao. Đánh giá của các chuyên gia, cây tía tô xanh này khi sang Việt Nam có thời gian sinh trưởng nhanh hơn nhưng các tiêu chuẩn vẫn đáp ứng được yêu cầu của phía Nhật Bản. Song, cây tía tô này không trồng được ở điều kiện bình thường của đồng đất Việt Nam, chỉ sau khoảng hơn chục ngày khi được đưa ra ngoài, cây có hiện tượng quăn lá, còi cọc, không phát triển được. Bên cạnh chế độ chăm sóc là chế độ tuyển chọn lá, bảo quản nghiêm ngặt và hoàn toàn vô trùng cho đến tận các bàn ăn ở đất nước mặt trời mọc. Thông thường, các lá tía tô mất khoảng thời gian từ khi rời cây đến các bàn ăn của người Nhật là khoảng hơn 24 giờ đồng hồ, hoàn toàn đi bằng đường hàng không và được lên lịch cả tháng trời.   Ông Nguyễn Văn Bình cho biết, hiện nay đơn vị mới xuất bán được khoảng 3 tạ/tháng, với chu trình khoảng 3 ngày/chuyến. Tuy nhiên, thị trường hiện nay mới đáp ứng được khoảng 8% nhu cầu tiêu dùng của người dân xứ mặt trời mọc. Do đó, còn rất nhiều tiềm năng mở ra đối với loại cây trồng mới này.
Theo Nguyễn Trường (Tiền phong)
Trích “24h.com.vn”
Hungary cần nhập xoài, thanh long Việt Nam

Hungary cần nhập xoài, thanh long Việt Nam

Chiều 14-7,  Tổng hội nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam (NNPTNT VN) đã có buổi gặp gỡ Văn phòng đại diện thương mại Hungary tại TPHCM (Hungarian Natinonal Trading House Saigon Partner) trực thuộc Bộ ngoại giao và Ngoại thương Hungari đến tìm hiểu cơ hội, khả năng hợp tác thương mại, kết nối doanh nghiệp hai bên.


Tổng hội NNPTNT và Văn phòng thương mại Hungary gặp gỡ trao đổi nhu cầu hợp tác giữa hai bên. Ảnh: Phú Khuynh

Ông Trần Duy Hậu, Trưởng đại diện văn phòng thương mại Hungary tại TPHCM cho rằng buổi gặp gỡ này là cơ hội rất tốt để hai bên tiến hành những bước hợp tác sâu hơn trong việc thúc đẩy thương mại, kết nối doanh nghiệp hai bên tìm hiểu thị trường của nhau. Hiện nhiều doanh nghiệp Hungary rất có nhu cầu nhập khẩu hoa quả nhất là xoài và thanh long để cung cấp thị trường tiêu dùng Hungary. Song song đó, nhiều doanh nghiệp Hungary sẳn sàng đầu tư vốn, chuyển giao công nghệ nuôi cá Chép Dòn (một đặc sản nổi tiếng của Hungary) tại Việt Nam.Tại buổi gặp ông Nguyễn Đức Quang, Phó Chánh Văn phòng Tổng hội, Tổng Biên tập tạp chí Nông Thôn Việt , đánh giá cao sự quan tâm trong việc tìm hiểu thị trường nông sản, kết nối nhu cầu doanh nghiệp giữa hai nước của Văn phòng đại diện thương mại Hungary. Theo ông Nguyễn Đức Quang   ở phía Nam Tổng hội có hơn 100 hội viên chuyên xuất nhập khẩu rau quả, lúa gạo, thịt gia cầm… Việc kết nối với các doanh nghiệp Hungary để hợp tác xuất nhập khẩu nông sản là nhu cầu rất thiết thực của nhiều đơn vị thành viên Tổng hội.

Trước thông tin của Văn phòng thương mại Hungary, ông Nguyễn Đức Quang đề nghị, hai bên cần tiến hành những thủ tục cần thiết để  ký kết văn bản hợp tác nhằm thực hiện việc thúc đẩy thương mại hai chiều một cách căn cơ có chiều sâu và kết nối doanh nghiệp hai bên giao thương hàng hóa đạt hiệu quả cao.

H.Lê

Trích “nongthonviet.com.vn”